Chương 56: Linh Căn Trúc Cơ
Đúng lúc Hứa Đạo chuẩn bị an tâm lưu lại Bạch Mao Phong Quật đủ ba năm, tuy chưa đến kỳ hạn quy định, trận pháp trong phong quật bỗng nhiên biến động, tựa hồ có người đang chuẩn bị mở cấm chế, tiến vào trong quật.
Lúc này Hứa Đạo đang tĩnh tu trong khe nứt địa động. Vừa phát giác dị trạng, hắn không kịp suy nghĩ nhiều, đành vội vàng thu công, trở về mặt đất.
Chẳng bao lâu sau, trận pháp nơi cửa vào phong quật được mở ra. Thạch bích hư thực luân chuyển, chầm chậm hóa thành một dãy thềm đá, trên bậc thềm đã có một đạo nhân đứng sẵn.
Hứa Đạo ung dung đứng đợi trong quật. Vừa nhìn thấy người tới, hắn hơi kinh ngạc cất tiếng:
“Long đạo hữu?”
Người vừa đến chính là Long Lễ Nhi đạo đồ, kẻ năm xưa từng đưa hắn vào Bạch Mao Phong Quật. Vừa nhìn thấy Hứa Đạo, đối phương lập tức chắp tay thi lễ, cười lớn:
“Hứa huynh, lâu ngày không gặp!”
Long Lễ Nhi đưa mắt đánh giá Hứa Đạo, ánh mắt bỗng sáng lên, cất lời:
“Xem khí độ của Hứa huynh trầm ổn như vậy, hẳn trong một hai năm qua cũng thu hoạch không ít.”
Bên dưới Bạch Mao Phong Quật có linh mạch ngầm thông suốt. Hứa Đạo mượn linh mạch tu hành, tu vi tinh tiến cực nhanh, đạo hạnh từ lâu đã vượt quá mười năm. Chỉ cần tu thêm một môn thổ nạp hấp thu nhật tinh, luyện thành Phù Chủng, hắn liền có thể bước vào cảnh giới Luyện Khí trung kỳ.
Nhưng Hứa Đạo không để lộ tu vi chân chính. Nhờ Liễm Tức Ngọc Câu, hắn chỉ biểu hiện ra ngoài đạo hạnh chín năm, gần như chẳng khác gì lúc mới bước vào phong quật.
Dẫu vậy, linh quang cùng khí chất trên người hắn vẫn ngưng luyện hơn trước rất nhiều, hoàn toàn không thể đánh đồng với ngày xưa.
Trong mắt Long Lễ Nhi, điều này có nghĩa là tu vi của Hứa Đạo tuy tăng trưởng không nhiều, song khí độ u huyền, nội liễm, tuyệt đối không thể xem thường.
Trong lòng Long Lễ Nhi nhất thời chấn động, âm thầm nghĩ:
“Xưa nay chỉ nghe Bạch Mao Phong Quật hành hạ người đến sống dở chết dở, chưa từng nghe nơi này còn có thể tôi luyện đạo tâm. Xem ra Hứa Đạo quả nhiên không phải hạng tầm thường. Người như vậy, nhất định phải kết giao.”
“Không hổ là Hứa đạo hữu, ở trong Bạch Mao Phong Quật vẫn có thể tĩnh tâm tu hành.
Long Lễ Nhi lập tức cười nói lấy lòng, rồi dừng một chút, tiếp lời:
“Có điều, vận số của Hứa huynh đã tới. Không cần tiếp tục lưu lại nơi quỷ quái này nữa!”
Nghe vậy, Hứa Đạo đã sớm có suy đoán trong lòng. Hơn phân nửa chính là chuyện Mặc Văn đạo đồ từng ám chỉ với hắn: Bạch Cốt Quan sắp có đại sự, đến cả những đạo đồ đang chịu giam cầm như hắn cũng phải được thả ra để sai khiến.
Nhưng hắn vẫn đè nén tâm tư, giả bộ kinh ngạc hỏi:
“Long huynh nói vậy là có ý gì?”
“Ha ha ha!”
Long Lễ Nhi cười vang:
“Hứa huynh cứ ra ngoài trước đã, chúng ta vừa đi vừa nói.”
Dứt lời, y đưa tay làm động tác mời, nghiêng người sang một bên, ra hiệu cho Hứa Đạo bước ra khỏi Bạch Mao Phong Quật.
Hứa Đạo thấy vậy chỉ khẽ mỉm cười, phất tay áo, sải bước rời khỏi phong quật.
Vừa bước ra ngoài, thân ảnh của hắn trong mắt Long Lễ Nhi lập tức trở nên rõ ràng.
Hứa Đạo đứng thẳng như tùng, thân hình thon dài. Sau lưng đeo một phương kiếm hạp, bên hông lủng lẳng một hồ lô lớn. Gương mặt vẫn còn nét thanh tú của thiếu niên, nhưng trải qua một hai năm bị âm phong tà khí không ngừng bào mòn, nơi đáy mắt đã thấp thoáng vài phần tang thương, vẻ thiếu niên và phong sương đan xen, khiến thần thái càng thêm siêu dật, khí độ phi phàm.
Bộ dáng thiếu niên đạo nhân như vậy tức khắc khiến Long Lễ Nhi, kẻ vóc người thấp bé, dung mạo tầm thường, không khỏi tự hổ thẹn, trong lòng dâng đầy vẻ ngưỡng mộ.
May thay Long Lễ Nhi vốn khéo léo xử thế, cũng không để lộ nửa phần ganh ghét, trái lại còn mở miệng không ngớt lời tán thưởng Hứa Đạo.
Hai người vừa cười vừa nói, cùng nhau rời khỏi phong quật.
Qua mấy phen chuyện trò, Hứa Đạo cũng từ miệng Long Lễ Nhi biết được rốt cuộc Bạch Cốt Quan đã xảy ra đại sự gì.
Thì ra một giáp luân hồi, tức Hắc Sơn Thần Yến sáu mươi năm một lần, sắp sửa khai mở. Lần này Bạch Cốt Quan dự định dốc toàn lực, điều động toàn bộ đạo đồ trong quan tham dự.
Kẻ xuống núi thì triệu hồi trở về, người đang chịu phạt thì được thả ra, toàn quan trên dưới đều đồng loạt xuất động.
Hứa Đạo nghe bốn chữ Hắc Sơn Thần Yến thấy có phần quen tai, nhưng không rõ thực hư. Sau khi hắn dò hỏi tường tận, Long Lễ Nhi mới tiết lộ rằng đây vốn là một nghi lễ tế tự dành cho một tôn thụ yêu.
Thụ yêu kia chiếm cứ trên Hắc Sơn, bộ rễ lan khắp toàn bộ dãy Hắc Sơn sơn mạch, tu vi thâm bất khả trắc, nghe đồn ít nhất cũng trên cảnh giới Kim Đan.
Thụ yêu đã tồn tại hơn ngàn năm, từng được triều đình sắc phong, lập làm Hắc Sơn Sơn Thần. Cái gọi là Hắc Sơn Thần Yến, chính là đại lễ tế tự vị Sơn Thần thụ yêu này, cứ mỗi một giáp lại cử hành một lần.
Theo lẽ thường, việc này vốn do triều đình phàm tục đảm trách. Thế nhưng từ khi Ngô Quốc lập quốc đến nay, triều đình Ngô Quốc tổng cộng chỉ từng chủ trì một lần, còn những kỳ còn lại đều do các thế lực lớn nhỏ quanh Hắc Sơn, như Bạch Cốt Quan, đứng ra tổ chức.
Sở dĩ Bạch Cốt Quan luôn hăng hái tham dự việc này, chính bởi toàn bộ Hắc Sơn đều nằm dưới sự chiếm cứ của thụ yêu. Thân ngoại hóa thân của nó vô số, tự thành một phương thiên địa, bao phủ cả dãy sơn mạch, khiến tu sĩ tầm thường căn bản không thể đặt chân vào.
Bởi vậy suốt ngàn năm tích lũy, trong núi linh dược, linh thú, linh khoáng nhiều không kể xiết, linh mạch cũng giăng kín khắp nơi, quả thực là một phương phúc địa dành cho người tu đạo.
Chỉ đến kỳ tế tự sáu mươi năm một lần, Hắc Sơn thụ yêu mới ngầm mặc nhận để đạo nhân tiến vào trong núi, khai thác các loại linh vật.
Quan trọng hơn, Hắc Sơn thụ yêu còn kết ra một loại linh quả. Cứ sáu mươi năm, linh quả mới chín một lần. Quả này được xưng là Thăng Tiên Quả. Đạo nhân sau khi dùng vào, có thể mượn dược lực của linh quả gieo trồng Linh Căn trong Âm Thần, lấy đó làm căn cơ Trúc Cơ, từ cảnh giới Luyện Khí nhất cử đột phá lên cảnh giới Trúc Cơ.
Những kỳ Hắc Sơn Thần Yến trước, số lượng Thăng Tiên Quả mà Hắc Sơn thụ yêu ban ra nhiều nhất từng đạt tới hai mươi quả, cũng đồng nghĩa nhiều nhất có thể giúp hai mươi đạo đồ tấn thăng cảnh giới Trúc Cơ.
Thế lực nào đoạt được càng nhiều Thăng Tiên Quả, số lượng Trúc Cơ đạo sĩ được sinh ra tự nhiên cũng càng nhiều, thực lực của cả tông môn theo đó tăng vọt.
Nhưng Hắc Sơn thụ yêu hình thể khổng lồ, hóa thân vô số, Thăng Tiên Quả không kết tụ tại một nơi, mà phân tán khắp toàn bộ Hắc Sơn.
Vì thế, để tìm kiếm Thăng Tiên Quả, các thế lực tham dự Hắc Sơn Thần Yến đều dốc hết nhân lực, điều động môn nhân tiến vào Hắc Sơn lùng sục khắp nơi. Dẫu không thể đoạt được Thăng Tiên Quả, thì số người lên núi càng nhiều, linh tài, linh dược mà tông môn thu hái được cũng càng phong phú, đủ để bồi đắp căn cơ, khiến thực lực môn phái không ngừng lớn mạnh.
Đương nhiên, tiến vào Hắc Sơn cũng chẳng phải không có hung hiểm.
Chỉ cần sơ sẩy một bước, nếu chọc giận Hắc Sơn thụ yêu, toàn bộ đệ tử của một môn phái đều có thể bỏ mạng, khiến truyền thừa đứt đoạn, hậu bối không người kế tục.
Nhưng lần này, Bạch Cốt Quan hiển nhiên đã hạ quyết tâm, không tiếc dốc hết vốn liếng, điều động toàn bộ đạo đồ trong quan tham dự, chỉ lưu lại một nhóm nhỏ ở lại trấn thủ, phụ trách mở hộ sơn đại trận…
Nghe Long Lễ Nhi kể đến đây, trong lòng Hứa Đạo không khỏi kinh ngạc, đồng thời âm thầm nghiền ngẫm về thứ gọi là Thăng Tiên Quả.
Khác biệt lớn nhất giữa cảnh giới Luyện Khí và Trúc Cơ, chính là Âm Thần của đạo nhân đã ngưng thực hay chưa.
Sau khi trải qua ba lần tích lũy chân khí trong cảnh giới Luyện Khí, chỉ cần chân khí đầy đủ, hồn phách ngưng tụ, đạo nhân liền có thể bắt đầu cô đọng Âm Thần, đem Âm Thần luyện thành các loại Pháp Thể.
Đợi đến khi Pháp Thể đại thành, Âm Thần của đạo nhân mới xem như bước đầu ngưng thực, không còn là một đoàn thuần âm hư huyễn. Khi đó, pháp lực cũng sẽ khác xa thời kỳ Luyện Khí, hai bên hoàn toàn không thể đặt lên bàn cân.
Nhưng tu luyện Pháp Thể tuyệt nhiên không phải chuyện dễ dàng, cũng chẳng phải chỉ cần có pháp môn là đủ.
Cũng như cảnh giới Luyện Khí, cảnh giới Trúc Cơ được chia thành ba tầng: tiền kỳ, trung kỳ và hậu kỳ, lần lượt là Lập Căn, Ngưng Sát và Luyện Cương.
Trong đó, Lập Căn là bước đạo nhân căn cứ vào pháp môn bản thân tu luyện, tìm kiếm thiên tài địa bảo tương ứng, rồi tế luyện vào trong Âm Thần, hóa thành cốt cách cùng căn cốt của Âm Thần, từ đó dựng nên khung xương của Pháp Thể, mượn nó để câu thông thiên địa, cảm ngộ tự nhiên.
Thiên tài địa bảo khác nhau, pháp môn quán tưởng khác nhau, luyện thành cốt cách và căn cốt cũng khác nhau. Thế nhưng tất cả đều có chung một danh xưng—Linh Căn.
Theo hiểu biết của Hứa Đạo, pháp môn của Bạch Cốt Quan có thể luyện thành hai loại Linh Căn, lần lượt là Bạch Cốt Tinh Kim Căn và Băng Cơ Ngọc Cốt Căn. Cả hai đều có thể giúp đạo sĩ cảm ứng Thái Âm Tinh Thần, tận hưởng linh khí nguyệt hoa vô tận.
Về phần thiên tài địa bảo cần thiết để luyện thành hai loại Linh Căn này rốt cuộc là vật gì, Hứa Đạo cũng không rõ. Nhưng hắn biết rõ, những bảo vật đó quý hiếm đến cực điểm.
Bởi lẽ, các đạo đồ trong quan vì tìm kiếm linh vật, thường vừa rời quan đã mất mười năm, thậm chí mấy chục năm. Cho đến hiện tại, Hứa Đạo vẫn chưa từng nghe nói có ai thành công mang đủ linh vật trở về đạo quan để Trúc Cơ.
Chỉ từ đó cũng đủ thấy con đường này gian nan đến nhường nào.
Nay lại xuất hiện Thăng Tiên Quả, hơn nữa còn khiến vô số đạo nhân quanh Hắc Sơn vì nó mà sôi sục. Xem ra linh quả này hẳn có công hiệu trợ giúp đạo nhân luyện thành Linh Căn, chẳng khác nào một loại thiên tài địa bảo vô cùng hiếm có.
Hiện giờ Hứa Đạo mới ở Luyện Khí tiền kỳ, còn cách viên mãn một quãng không ngắn. Thế nhưng sau khi nghe đến Thăng Tiên Quả, tâm tư hắn cũng bắt đầu dao động.
Hứa Đạo thầm nghĩ :
“Vật dùng để Trúc Cơ, nếu thật sự đợi đến khi Luyện Khí viên mãn mới bắt đầu tính toán, e rằng đã quá muộn…”
(Hết chương)
Chưa có bình luận nào. Hãy là người đầu tiên!
Viết bình luận